Trà – Chương 3

3. 

cánh cổng

Một buổi sáng đẹp trời tại thị trấn, Chủ vườn lặng lẽ lật giở những trang sách cũ kĩ sớm đã xỉn màu. Màu vàng ố của cuốn sách như để chứng minh cho tuổi tác của tác phẩm này, và Chủ vườn, dường như không để tâm lắm.

“Chủ vườn, em có thể đến cửa hàng sách để mua một quyển y hệt thế và mới mẻ hơn cho ngài.”

“Thật ra thì không cần đâu, chủ nhân đã đưa cho ta, thì ta cần phải giữ.” Chủ vườn nghiêng đầu, đôi mắt đột ngột chuyển sang một màu tím nhạt nhẽo.

Chỉ khi người tẻ nhạt thì mới có màu này mà thôi. Hầu nữ mỉm cười, rồi sau đó bưng lên bánh ngọt cho Chủ vườn của mình.

“Quản vườn đâu em?”

“Anh ấy đi lấy trà rồi, hôm nay là ngày lấy nguyên liệu.”

“Ra thế…”

Quán trà im lìm và tĩnh lặng, hôm nay là ngày nghỉ của quán.

Quy tắc số ba của vườn trà: Ngày chủ nhật cuối cùng của tháng vườn trà đóng cửa.

Buổi trưa. Chủ vườn nhìn đồng hồ, ngắm nghía trên mặt đồng hồ những viên đá tím nhạt xoay tròn. Thời gian đang trôi một cách chậm rãi. Và sự ì ạch đó khiến chủ vườn không mấy hài lòng.

“Được rồi, hầu nữ, em thay đồ đi, chúng ta sẽ ra ngoài!”

Giật mình, hầu nữ ngẩng lên, cô gái trẻ không ngỡ ngàng đến nỗi đánh rơi khay đựng hoa quả bằng thủy tinh trên tay mình, nhưng đủ ngạc nhiên để trợn tròn mắt và nhìn chủ vườn.

“Dạ?”

“Chúng ta sẽ ra ngoài, nào, lại đây đỡ ta dậy.”

Chủ vườn rất yếu ớt. Ở cô ta phải có một sự tinh sạch tuyệt đối bao phủ. Việc chủ vườn ra ngoài, là một điều dường như bất khả thi. Chủ vườn hiểu hầu nữ nghĩ gì, nhưng chỉ thở dài.

“Được rồi, ta chỉ yếu đuối như thế khi ở trong những vùng mà chủ nhân phù phép thôi. Em nghĩ làm sao mà ta có thể xuyên qua lòng đất hay tự mình đi đến cánh cửa kia khi em và quản vườn không có ở đây?”

“Nhưng…”

“Không nhưng, chuẩn bị đi!”

Chủ vườn buông quyển sách xuống, bình thản kéo tấm áo choàng vốn dĩ trùm kín thân mình của cô. Tấm áo rơi xuống, hầu nữ thở dài rồi tiến đến gần, chạm vào thứ vật chất bám quanh lấy thân mình chủ vườn như một loài kí sinh khốn nạn.

“Đến bao giờ thứ này mới hết?”

Một giờ hai phút.

Chủ vườn thong thả chống gậy, bước trên con đường đầy hoa anh đào và dưới cái màu nắng gắt chói chang. Hầu nữ phía sau, không khỏi nhăn nhó nhìn bóng dáng của chủ vườn.

“Ba toong hỏng bây giờ!” hầu nữ nhăn nhó thấy chủ vườn cứ nện lấy nện để thanh ba toong èo uột, cô lắc đầu rồi lại dìu chủ vườn. “Ngài đi đâu vậy?”

“Tiệm Nghe! À, đây rồi.” Chủ vườn nhướn mày giơ ba toong chỉ chỉ vào một cánh cửa gỗ lơ lửng trên không chung.

Cánh cửa màu nâu xỉn, tấm gỗ bị đục lỗ chỗ như dấu hiệu bị mối mọt ăn mòn, phía bê trên, còn có tấm bảng sơn đỏ bám đầy bụi. Những nét chữ khắc bằng đá cũng bị bào mòn, chỉ loáng thấy vài kí tự như chữ “S” hay “G”. Hầu nữ thở dài, phải rồi, tiệm Nghe. Sao hầu nữ không nghĩ ra sớm hơn?

Rồi cánh cửa tự mở ra, một chiếc thang dây thong thả tuồn xuống, cũng cũ kĩ và rách nát y như cánh cửa kia.

“Đi thôi!” Chù vườn kéo Hầu nữ lên bằng một sức mạnh kì lạ mà đáng ra, một kẻ yếu đuối như Chủ vườn chả thể có được. Nhưng thế thì sao, dù sao, khi đã thoát khỏi Phòng trà, Chủ vườn có những quyền năng cổ tích nhất định, và hầu nữ thì cũng có thể là một nàng tiên. Chỉ là có thể mà thôi.

“A, đến rồi!” giọng nói trầm trầm vang lên.

Chủ vườn nhướn mày, nhìn cái xác vạ vật dưới đất. Cô gái trẻ dùng gót giày hất hất cái xác cong queo đó rồi thở dài.

“Dậy!”

“Không!”

“Dậy!”

“Có mang bánh không?”

“Không…” Chủ vườn thấy áy náy, có chút rụt rè trước câu hỏi chẳng mấy liên quan của cái xác khô.

“Thế thì bố không dậy.”

“Bố cái đầu nhà ngươi, dậy, ta bảo!” dẫm dẫm gót giày lên tấm lưng của cái xác, cô cảm thấy cái kẻ kia mỗi ngày lại lún sâu vào thứ gọi là định mệnh.

“Được rồi, nghi thức trao đổi. Ta dậy, ngươi đưa ta cái ba toong kia.”

“Ba toong? Ngươi cần làm gì?”

“Làm cái gậy mắc màn…”

Im lặng!

Cơ mặt chủ vườn giật giật, rất hiếm khi chủ vườn thể hiện cảm xúc của mình, tròng mắt đổi màu liên tục rồi biến thành màu vàng mắt mèo. Cái xác dưới chân hình như cảm thấy sự tức giận từ phía trên, liền tự động lăn mình cách xa một chút, rồi ngáp ngáp hai cái. Chớp chớp đôi mắt màu xanh ngọc tuyệt vời nhìn Chủ vườn, cái xác vô tội tiếp tục ngáp. Rồi lăn ra ngủ. Trước khi ngủ, còn buông một câu hết sức khốn nạn.

“Muốn bố dậy thì ngươi tự đi mà cho bố cái ba toong rồi mắc màn cho bố.”

BỐP!

Không đúng, thứ tiếng động khi cái ba toong đập vào đầu của một kẻ nào đó không thể là “Bốp” được. Đó hẳn phải là thứ âm thanh gì đó ghê rợn hơn cơ. Cái xác hốt hoảng giật mình, rồi mở mắt thao láo nhìn quanh, nhìn đến muốn rớt cả tròng mắt ra ngoài.

“Chủ phòng…” hầu nữ rụt rè lên tiếng “Ngài nên dậy đi thôi. Đã Một giờ hai mươi bảy phút rồi.”

“Sao cô biết phải gọi ta là Chủ Phòng? Và sao biết giờ làm việc của ta bắt đầu từ một giờ hai nhăm?” Chủ phòng – cái xác – lên giọng dò hỏi.

“À, cái bảng nội quy ở kia, tôi có thể thấy mà.”

“Nó được viết bằng cổ ngữ.”

“À, thì tôi học cổ ngữ mà. Tôi là Hầu nữ, mà Hầu nữ không làm được điều đơn giản vậy thì đáng hổ thẹn.”

Chủ phòng cau có nhìn hầu nữ rồi chủ vườn, rồi lại nhìn chủ vườn sang hầu nữ.

“Chủ tớ các ngươi rặt một lũ ngu si, ờ, dậy!” Chủ vườn ngồi dậy, nahwms mắt vào, mở mắt ra, màu mắt chuyển đổi thành màu đen trầm luân.

“Không thể nào!” Chủ phòng thốt lê, khe khẽ, rồi cẩn thận dùng chiếc đũa trong tay mình, chạm lần lượt lên cánh tay của Chủ vườn.

“Tôi cũng tin là không thể, tôi đoán là do vị khách ngày hôm trước.” Chủ vườn thở dài, tay day day trán và ủ ê nói.

“Nhưng, Black Thing đã bị tiêu diệt, hay chí ít, hội đồng Pháp sư đã nói rằng nó bị tiêu diệt.” Chủ phòng có vẻ không tin tưởng, liền đứng dậy, đi đi lại lại, gót giày rỗng nện lên sàn hoa cương, tạo thành tiếng cành cạch khó chịu.

“Tiệm trà sẽ đóng cửa và ngày. Ngươi cũng nên đóng cửa tiệm nghe và chuẩn bị đến diện kiến chủ nhân đi.”

“Ta không đi! Hắn chỉ là một con kỳ lân hai sừng và có cái đuôi bảy sắc cầu vồng.”

Chủ vườn im lặng, câm nín trước sự miêu tả ngô nghê của Chủ phòng về vị chủ nhân tôn kính. Không, chủ nhân không phải là một con kì lân, ngài chỉ thích chiếc mũ có hai sừng và cái áo choàng bảy màu, tuyệt đối không phải là một chú kì lân nào đó. Nhận thấy sự câm nín bất mãn của đồng môn, Chủ phòng mím môi, rồi cau có quay đi.

“Jun! Ngươi phải đóng cửa tiệm Nghe.”

“Nhưng công việc của ta là lắng nghe. Nếu ta không lắng nghe, thế gian sẽ trút mình vào đâu? Cái phễu trà của nhà ngươi chắc?” Chủ vườn, người tên Jun cuối cùng cũng thốt lên một câu tử tế.

“Việc của ta và của ngươi chỉ là xoa dịu thói đời. Nhưng phải đi tìm Chủ nhân. Chúng ta phải đi tìm chủ nhân.”

Chủ vườn có vẻ không quan tâm, chiếc đũa trong tay phẩy một cái, một cánh cửa gỗ mở ra.

“Đó là trái tim của Chủ nhân, ta đã nghe thấy hắn ta, nghe thấy trái tim hắn ta vỡ nát. Giờ không thể tìm chủ nhân được đâu. Ngươi về Phòng trà của ngươi đi.”

“Jun…” Chủ vườn cau có.

“Ta nhắc lại một lần nữa, ta không đi đâu hết!” Jun – Chủ phòng quắc mắt nhìn cả Chủ vườn lẫn Hầu nữ. Có vẻ như nhận ra người kia sẽ không rời khỏi, Chủ vườn thở dài.

“Được rồi, hẹn ngươi trong ngày hội pháp sư.”

Hầu nữ ngắm nhìn Chủ vườn rất lâu. Cô không rõ nên nói gì, cũng không rõ phải hiểu thế nào vì biểu cảm phức tạp kia. Đôi mắt của Chủ vườn hóa thành màu ám khói vàng, màu sắc hiếm hoi và Hầu nữ thấy. Và lần gần đây nhất cô thấy nó, thì ắt cũng phải mười năm trước rồi.

Chuông cửa kêu leng keng leng keng. Hầu nữ ngẩng đầu, hôm nay rõ ràng phòng trà không tiếp khách. Mở cửa ra, Hầu nữ mỉm cười.

“Chà!”

Chiếc hộp được đưa đến trước mặt Hầu nữ, cô gái xinh đẹp đón lấy nó, cẩn thận kí tên lên bưu phẩm, nhìn người trao hàng bằng ánh mắt biết ơn kín đáo, đáp lại cô, là một nụ cười nhoẻn ra kì bí. Phải, Hầu nữ biết đây là một điềm tốt lành cho phòng trà, cho Chủ vườn, và cho cô.

“Chủ vườn, em mới nhận được bưu phẩm, ngài có biết là ai gửi đến không?”

Ngước mắt lên nhìn Hầu nữ, Chủ vườn lắc đầu, ảm đạm và ỉu xìu.

“Một vị khách cũ, ông ta đã đến hẳn sa mạc để lấy về cho người, coi như quà báo đáp.”

“Từ sa mạc?” đôi mắt ám khói vàng chuyrn sang màu xanh lơ tuyệt đẹp.

“Phải, và người đoán xem, đó là gì?”

Lắc lắc đầu, Hầu nữ mỉm cười nhìn vị chủ nhân háo hức, giống trẻ con vậy. Và cô mở lớp bọc ra, cẩn trọng gỡ từng lớp lót, và mỉm cười đặt xuống trước mặt Chủ vườn.

“Trứng rắn?” Chủ vườn khe khẽ thốt lên, mỉm cười hạnh phúc.

Một món quà tuyệt diệu. Chủ vườn lấy trong túi áo một chiếc kính lúp nhỏ, tỉ mẩn soi xét quả trứng rắn mới đến, rồi quay sang hỏi Hầu nữ.

“Em có thấy lá thư nào không?”

“Để em xem.” Lục tìm trong lớp gói đồ, quả thật hầu nữ tìm thấy một bức thư.

“Gửi Chủ vườn, ân nhân của tôi.

Hẳn cô đã quên tôi rồi, vì trong muôn vàn vị khách đến tìm cô, cầu cứu cô và van xin thứ trà thanh lọc tâm hồn, thì tôi là kẻ mờ nhạt nhất, nỗi đau của tôi cũng là nỗi đau nhàm chán nhất, nhưng, hỡi vị ân nhân kính yêu của tôi, tôi không bao giờ quên cô cả.

Hôm nay, tôi đi thăm thú lang bạt khắp nơi, để tìm lấy nguyên liệu mà cô đã yêu cầu tôi cách đây ba năm, và tôi đã tìm thấy. Quả trứng rắn này đến với tôi hoàn toàn do may mắn và duyên nợ, câu chuyện của nó tôi sẽ kể cho cô vào một ngày gần nhất. Ấy là nếu tôi còn sống sót trở về.

Cô sẽ tự hỏi tại sao lại sống sót trở về? Thưa cô, tôi đang ở trong vùn chiến địa, đất nước của tôi đang ngập chìm trong chiến tranh và bênh dịch. Đau khổ triền miên và kéo dài khiến cho trái tim tôi luôn thắt lại. Tôi đang ở đây, chờ đợi nữ thần chiến thắng sẽ mỉm cười với chúng tôi, nhưng có vẻ như chỉ là vô vọng.

Chúng tôi không biết mình đang chiến đấu với ai. Những thứ sinh vật kinh tởm đó lén lút đi đến và cướp bóc, tước đoạt số phận của loài người. Chúng hiện diện trong bóng đêm và xé tan ánh sáng. Và chưa một ai trong chúng tôi có thể chiến đấu với nó mà nhìn được nó. Cách duy nhất để chúng tôi sống sót, thưa cô, là dùng nước trà của cô.

Cô hẳn còn nhớ lá trà mà cô đã đưa cho tôi cách đây ba năm. Loại trà đó cô tự pha ra và cô nói rằng thành phần chính của nó là lá bằng lăng. Chúng tôi mỗi ngày đều giã ra, cho vào túi lọc và dùng nước sôi, pha thật loãng và mỗi ngày chỉ dám uống ba ngụm. Nhưng thế là đủ rồi, loại sinh vật kì bí kia căm ghét vị trà này. Chúng tôi chỉ có thể bấu víu vào thứ trà đang dần hết ấy. Và ngày hôm qua, chúng tôi nhận được tin loài sinh vật đó đã sang bên nước láng giềng, và cuộc chiến bắt đầu nổ ra. Và cũng như chúng tôi, họ hy sinh vì một thứ mà không ai biết.

Thưa cô, một kẻ đã chết đi sống lại như tôi luôn thiết tha được sống, và đau đớn trước cái chết của đồng bào mình. Kẻ hèn mọn này đây xin cô hãy gửi đến cho chúng tôi thứ trà mà cô đã đem cho tôi ngày ấy, để có thể chống chọi và sống sót. Dù chỉ là sự bấu víu với cuộc đời, nhưng chúng tôi không thể chết, cũng không muốn chết. Ngàn vạn lần mong cô hãy giúp chúng tôi, giúp con dân chúng tôi.

Kính thư!

Joseph Andre.”

“Hầu nữ, đây rõ ràng không phải là một điều tốt lành.” Chủ vườn nhíu mày, rồi thong thả đem gói lá thư để vào chỗ cũ. “Gọi Quản vườn đến đây, chúng ta cần làm một chuyến đi đến thẳng Bosten!”

“Vâng, thưa Chủ vườn.”

One thought on “Trà – Chương 3

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s